Vài Nét Về Thuế GTGT

Thảo luận trong 'Kế toán Bình Dương' bắt đầu bởi Thuy Hoang, 5/12/18.

Lượt xem: 30

  1. Thuy Hoang

    Thuy Hoang Thượng Đế Thành viên BQT

    Tham gia:
    20/9/18
    Bài viết:
    185
    Đã được thích:
    83
    Điểm thành tích:
    28
    Giới tính:
    Nam
    Địa phương:
    Bình Dương
    Luật thuế GTGT được ban hành và có hiệu lực thi hành ở Việt Nam từ 01/01/1999. đến nay đã trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung để phù hợp với thực tiễn nước ta trong từng thời kỳ.

    Ở VN hiện nay thuế GTGT là nguồn thu ngân sách khá chủ yếu chiếm tỷ trọng khỏang 30% trên tổng các khỏan thu NSNN từ thuế , phí và lệ phí ( trừ dầu thô).

    thue GTGT.jpg
    I/ ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẾ GTGT:

    1. Thuế GTGT là thuế tiêu dùng : nghĩa là thuế GTGT đánh vào các giai đoạn luân chuyển của hàng hóa dịch vụ, mỗi giai đoạn luân chuyển chỉ đánh thuế tính trên phần giá trị gia tăng và người tiêu dùng là người trả tiền thuế sau cùng.

    2. Thuế GTGT là thuế gián thu : người có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế là người sản xuất kinh doanh, người nhập khẩu; người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng.

    3. Thuế GTGT có tính lũy thoái so với thu nhập: thu nhập càng cao thì tỷ lệ thuế GTGT phải trả trong giá mua so với thu nhập của họ giảm đi. Ví dụ: một cái đồng hồ bán với giá chưa thuế GTGT là 2.000.000 đ, thuế GTGT 10% là 200.000 đ, một người có thu nhập 2.000.000 đ/ tháng nếu mua thì tỷ lệ thuế GTGT so với thu nhập bằng 200.000/2.000.000 = 10%; một người có thu nhập 20.000.000 đ/tháng nếu mua thì tỷ lệ thuế GTGT so với thu nhập bằng 200.000/20.000.000 = 1%. điều đó cho thấy ghánh nặng thuế dồn lên vai người nghèo, nên thuế GTGT không có tính công bằng.

    Như vậy rõ ràng khi tăng thuế GTGT thì người có thu nhập thấp bị ảnh hưởng nhiều nhất.

    4. Thuế GTGT đánh theo nguyên tắc điểm đến: người tiêu dùng ở quốc gia nào thì quốc gia đó đánh thuế, bất kể hàng hóa đó sản xuất ở đâu.

    II/ ĐỐI TƯỢNG KHÔNG CHỊU THUẾ GTGT: Gồm 26 nhóm hàng hóa, dịch vụ ( tham khảo phụ lục 01- GTGT Luật số 106/2016/QH13 )

    Về bản chất của đối tượng không chịu thuế là nhà nước miễn thuế GTGT. ( vì lý do khuyến khích phát triển nông nghiệp, vì lý do xã hội, vì theo thông lệ quốc tế, hoặc không thu thuế vì lý do nhà nước trả tiền)

    Nguyên tắc chung của đối tượng không chịu thuế là không chịu thuế ở tất cả các công đoạn luân chuyển của quá trình sản xuất ( trừ vài trường hợp đặc biệt)

    III/ CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG PHẢI KÊ KHAI TÍNH NỘP THUẾ GTGT: Gồm 7 nhóm trường hợp ( tham khảo phụ lục 04- GTGT điều 5 thông tư 219/2013/TT-BTC)

    Nói chung các trường hợp không phải kê khai tính nộp thuế GTGT là vì không có các đặc điểm của thuế GTGT như : là thuế tiêu dùng có nghĩa là phải có bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; có luồng tiền đi ngược luồng hàng đối ứng thì mới tính thuế ví dụ như thu về bồi thường bằng tiền là không thấy có luồng hàng hóa đi ngược luồng tiền.: hay như mua dịch vụ của tổ chức nước ngoài mà các dịch vụ này thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam là liên quan đên nguyên tắc điểm đến. hoặc trường hợp làm đại lý vé số bán đúng giá hưởng hoa hồng cũng không phai kê khai, tính nộp thuế GTGT vì phân đông là cá nhân có thu nhập thấp nên nhà nước sẽ nắm bên giao đại lý

    và khấu trừ tại nguồn. hoặc các trường hợp khác như cho vay, cho mượn, điều chuyển TSCĐ. v..v

    Giữa ĐỐI TƯỢNG KHÔNG CH ỊU THUẾ GTGT và CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG PHẢI KÊ KHAI TÍNH NỘP THUẾ GTGT có điểm khác nhaurõ nét là : thuế GTGT đầu vào liên quan đến các trường hợp không phải kê khai tính nộp thuế GTGT nếu đáp ứng đủ điều kiện thì được khấu trừ còn đối tượng không chịu thuế GTGT thì đầu vào không được khấu trừ.

    Một vài trường hợp đặc biệt : không chịu thuế GTGT ở 1 giai đoạn của quá trình sản xuất nhưng người tiêu dùng vẫn chịu thuế. Ví dụ như sản phẩm trồng trọt chăn nuôi, nuôi trồng chưa qua chế biến hoặc sơ chế do nông dân bán ra hoặc nhập khẩu về thì không chịu thuế, lý do là giải pháp kêu gọi nông dân kê khai và nộp thuế GTGT là không khả thi, nhà nước sẽ chỉ thu thuế GTGT 5% ở khâu luân chuyển cuối cùng là người tiêu dùng mua. Như vậy trường hợp này không phải là miễn thuế mà là kỹ thuật đánh thuế, ở giai đoạn đầu tiên không đánh thuế nhưng quá trình luân chuyển cuối cùng đên tay người tiêu dùng vẫn chịu thuế GTGT 5%.

    Trường hợp khác ỏ khâu kinh doanh thương mại( trừ nhập khẩu ) nếu người bán là DN, HTX nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, Người mua là DN, HTX à Không tính VAT(Người bán khai trên tờ khai GTGT ghi vào chỉ tiêu 32a). Việc quy định này là để tránh gian lận về hoàn thuế GTGT , trước đây nếu DN xuất khẩu mua nông sản của nông dân, sau đó trực tiếp xuât khẩu thì sẽ có ít đầu vào để hoàn thuế GTGT vì người nông dân bán ra không chịu thuế. Nên đã lập ra các DN A, B, C, D bán hàng cho nhau ( A bán cho B thuế GTGT 5%; B bán cho C thuế GTGT 5%; C bán cho D thuế GTGT 5% và DN D là người xuất khẩu thuế 0% và được hoàn. Vì vây hiện nay trong giai đoạn kinh doanh thương mại này quy định không tính thuế đê ngăn chặn gian lận.
     
    chobinhduong thích bài này.

Chia sẻ trang này